Lịch công tác tuần phòng văn hóa thông tin Quảng Điền
Thống kê truy cập

Đang trực tuyến: 3

Hôm nay:

Tuần này:

Tháng này: 3537

Tổng lượt truy cập: 276941

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUANG VINH MUÔN NĂM!   ***  

Bác Vọng và dấu xưa oai hùng!
Mỗi lần ra Quảng Điền, qua cầu Tứ Phú mới xây, rồi dọc theo con đường làng ven dòng Bồ Giang để tìm về làng Bác Vọng, tôi lại vọng nhớ đến 2 con người họ Đặng: Đặng Dung và Đặng Hữu Phổ. Sống cách nhau dễ chừng nửa thiên niên kỷ, cuộc đời cũng thật ngắn ngủi, nhưng cái chết của họ đã đi vào sử sách như biểu tượng anh hùng của dân tộc Việt. Họ đã vì nước mà đền nợ máu, mà hiến dâng tuổi thanh xuân.

          Sử cũ chép lại, cha con Đặng Tất và Đặng Dung, những tên tuổi lẫy lừng trong cuộc chiến kháng Minh thời Hậu Trần quê tận Hà Tĩnh. Thế nhưng, như có thoáng nghi ngờ lại ghi chú thêm rằng, tổ tiên của các ông đã di cư vào Hóa Châu, không rõ thời điểm nào. Để rồi sau đó, bằng những tài liệu có được, gần đây các sử gia đã có đầy đủ chứng cứ để khẳng định làng Bác Vọng bên sông Bồ này là quê hương của họ. Trong nhiều tài liệu lịch sử, Đặng Tất được xem là “người bản thổ” của Hóa Châu- Bác Vọng, nghĩa là ở địa phương nhiều đời. Đặng Tất đã được nhà Hồ cử làm tri huyện Hóa Châu xưa. Khi giặc Minh xâm lược Đại Việt, lập chính quyền đô hộ (1407), Trương Phụ vẫn cho ông làm đại tri châu như cũ. Vậy nhưng, con người nồng nàn yêu nước này đã không cam chịu. Hay tin Trần Ngỗi, có dòng dõi tông thất nhà Trần phất cờ khởi nghĩa, cha con Đặng Tất- Đặng Dung đã giết hết bọn quan lại Minh ở Hóa Châu, rồi kéo quân ra Nghệ An tìm theo, được phong quốc công và gả công chúa cho. Cuộc đời chiến binh của cha họ Đặng vẻ vang nhưng đáng buồn thay, cũng đầy bi kịch. Đặng Tất chết bởi chủ tướng là Trần Ngỗi sợ mất quyền bính và nghe lời gièm pha của kẻ xấu. Còn Đặng Dung ra đi khi cuộc khởi nghĩa của vua tôi Hậu Trần lâm vào lối cụt và để lại cho muôn đời sau bài thơ “Thuật hoài” nổi tiếng với những vần thơ như xé lòng “Thù nước chưa xong đầu đã bạc/ Gươm mài bóng nguyệt đã bao lần. Tôi nghĩ, trong hành trang vào đời của biết bao thế hệ người Việt đã mang theo và canh cánh trong lòng câu thơ xưa của Đặng Dung, như một lẽ sống, niềm khát khao và hy vọng cống hiến.

        Lịch sử như một sự lặp lại khi chừng 500 năm sau đó với sự xuất hiện của một cặp cha con họ Đặng khác là Đặng Huy Cát và Đặng Hữu Phổ. Lần này bối cảnh lịch sử đổi thay với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhưng cũng lại gắn liền với tên làng Bác Vọng. Tháng 7 năm 1885, kinh đô Huế thất thủ. Chính Đặng Huy Cát và Đặng Hữu Phổ là những người đầu tiên trong cả nước hưởng ứng chiếu Cần Vương do vua Hàm Nghi phát động. Cuộc khởi binh không thành, kéo theo cái chết bất tử của Đặng Hữu Phổ. Chuyện kể rằng, sau khi lãnh án tử hình, thực dân Pháp và Nam triều đã áp giải về quê và tổ chức đem xử bắn ông một địa điểm gần bến đò Quai Vạc bên sông Bồ, thuộc làng Bác Vọng. Tương truyền, lúc thụ hình, Đặng Hữu Phổ vẫn trong tư thế đĩnh đạc, hiên ngang khiến cho đao phủ thủ run tay và phải chém đến ba lần thì đầu mới lìa khỏi cổ. Còn nữa, cảm phục khi nhìn thấy cái chết bi tráng của chủ tướng, hai người lính theo hầu cũng đã hộc máu chết theo. Đọc lại bài thơ “Lâm hình thời tác” của Đặng Hữu Phổ để lại trước lúc đem thân đền nợ nước, thấy phảng phất tâm sự và khí phách của Đặng Dung trong “Thuật hoài” năm xưa. Ngày Đặng Hữu Phổ ra pháp trường là 29-8-1885. Quê của cha con Đặng Hữu Phổ nằm bên kia con sông Bồ, đó là làng Thanh Lương, xã Hương Xuân, huyện Hương Trà. Đặng Huy Cát đã nhập tịch làng Bác Vọng sau khi lấy công chúa Tĩnh Hòa, trở thành Phò mã đô úy. Lần đầu tiên đến thăm miếu thờ Đặng Hữu Phổ, còn gọi là “Thị độc miếu” (miếu của quan Thị độc học sĩ Hàm lâm viện), nằm cách không xa bến đò Quai Vạc và khu lăng mộ của mẹ con ông ở xứ Cồn Căng, cách đó không xa, trong một buổi chiều đông tầm tã mưa rơi, tôi đã bật khóc, chợt như hiện về trong tôi dáng hình kẻ anh hùng lỡ vận và câu thơ ngày nào ông viết “Chính khí nay về cùng đất nước/ Hồn thiêng theo mãi với vua, cha”.

Miếu thờ Nghĩa sĩ Cần Vương Đặng Hữu Phổ ở làng Bác Vọng

       Có thể trong cách phân định xưa, khi người Việt mới tiến vào, cả vùng đất Quảng Điền còn bạt ngàn sông nước và địa danh Bác Vọng bao gồm cả một không gian rộng lớn hơn nhiều. Thế nhưng, như có một linh cảm kỳ lạ, tôi vẫn nghĩ đến cậu bé Đặng Dung xưa đã được sinh ra ở một ngõ xóm nào trong cái không gian nhỏ nhắn và bí ẩn của ngôi làng Bác Vọng nay còn đang nghèo xác xơ nằm nơi hạ nguồn sông Bồ, để rồi được tận hưởng cái lộc đất, lộc trời của vùng đất thiêng. Cũng như Đặng Hữu Phổ sau này, như duyên trời sắp đặt đã chọn Bác Vọng làm nơi đưa cái chết của mình thành bất tử. “Địa linh nhân kiệt”, vùng đất có chiều dài không quá vài cây số này mà tôi đã bao lần dạo bước và ngẫm ngợi như ken dầy bao dấu tích và chứng nhân lịch sử, là hội tụ của hồn thiêng sông nước.

      Ngẫm nghĩ lại thấy, trong hành trình mở cõi và giữ gìn vùng đất phương Nam, chúa Tiên Nguyễn Hoàng cũng kịp lưu danh dấu ấn với câu chuyện huyền thoại về sự tích Bà Tơ mà mới đây trong năm 2012 một lễ hội lớn đã được tổ chức ngay tại ngôi miếu cổ, nằm cách không xa “Thị độc miếu”. Giai thoại dân gian kể lại, trong một trận thuỷ chiến trên phá Tam Giang, chúa Tiên Nguyễn Hoàng phải một phen bôn tẩu. Bị quân địch truy đuổi gắt gao, quân lính đang ra sức chèo chống thì thuyền của nhà chúa bị đứt quai chèo…Khi mà tình thế nguy cấp cận kề thì may mắn thay họ bắt gặp gia đình bà họ Trần làng Bác Vọng đang chèo thuyền làm nghề trên mặt nước. Không tý ngần ngại, người đàn bà họ Trần đã kịp dâng lên mớ tơ (hay tay lưới) giúp vua tôi nhà chúa bện lại quai chèo và nhờ đó mà thoát hiểm. Cảm kích tấm lòng vàng của gia đình và bà họ Trần, nhà chúa đã có trọng thưởng bằng một hình thức rất lạ kỳ. Đó là, trước sự chứng kiến của đông đảo chúa- tôi, người ta cho thả bả mía từ sông Bồ, phía trước làng Bác Vọng. Bả mía trôi theo dòng nước chảy, rồi dạt vào bờ và đó được xác định là nơi xa nhất trong giang phận, được quyền canh tác và khai phá của làng Bác Vọng…Câu chuyện về sự tích miếu Bà Tơ được xem là một giai thoại đẹp về những ngày đầu mở xứ phía Đàng Trong. Nó gợi cho ta nhớ lại hình ảnh người đàn bà áo xanh trong mộng đã giúp Chúa Nguyễn Hoàng tiêu diệt tướng nhà Mạc Lập Bạo và được lập miếu thờ ở Ái Tử (Quảng Trị). Hay là người đàn bà áo đỏ ở vùng đồi Hà Khê (Kim Long) trong huyền thoại về chùa Thiên Mụ cũng chính nằm trong những giấc mơ lớn của Đoan Quận công Nguyễn Hoàng trên hành trình Nam Tiến.

Rước sắc phong tại Lễ tế Bà Tơ (làng Bác Vọng) năm 2012

       Từ sự tích về người đàn bà áo đỏ đến thủ phủ Kim Long và cũng phải chăng chính từ sự tích bà Tơ đã đưa đẩy để sau đó không lâu, cái làng quê Bác Vọng trở thành thủ phủ thứ ba của xứ Đàng Trong tại Huế. Bao kẻ bỏ công nghiên cứu đã lắc đầu và có vẻ như không thể hiểu nổi quyết định của chúa Nguyễn Phúc Chu khi dời thủ phủ từ Phú Xuân ra Bác Vọng vào năm 1712 thấp trũng và bị chia cắt. Ròng rã 26 năm, Bác Vọng được biết đến là trung tâm chính trị, điều hành mọi hoạt động của xứ Đàng Trong. Nói đi rồi nghĩ lại, bỏ Phú Xuân vẫn được đánh giá là vùng đất đắc địa cho việc định cư lâu dài để chọn lấy Bác Vọng, dẫu sao cũng cho thấy dải đồng bằng nhỏ hẹp nhưng rất trù phú ở lưu vực sông Bồ đã có sức hấp dẫn đặc biệt, lôi cuốn các chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Chu sùng đạo Phật và vùng đất yên lành này được chọn như một cách để ông lánh xa sự náo nhiệt và không khí đô hội của thủ phủ Phú Xuân.

       Trong buổi sáng mùa đông nhạt nắng và se lạnh, tôi đã đặt bước đến chùa Bác Vọng, còn có tên gọi là Thiện Khánh. Đã đến thăm rất nhiều ngôi chùa trên đất Cố đô nhưng bước vào ngôi chùa cổ này, tôi đã có một cảm giác lạ. Như có một sự dồn tụ nơi đây linh khí của vùng đất thiêng Bác Vọng. Chưa rõ năm tháng xây dựng nhưng chùa Thiên Khánh hàng trăm năm tuổi được biết đã gắn liền với một con người là chúa Nguyễn Phúc Chu và khả năng được xây dựng bởi ông chúa sùng đạo này. Chùa Thiện Khánh hiện còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống thông qua các lễ hội, kiến trúc, quy cách thờ tự và cả những hiện vật được phát hiện và bảo tồn như bia đá và chuông cổ. Điều đặc biệt khiến không ít người ngạc nhiên khi biết địa điểm tọa lạc của ngôi chùa cũng chính không gian của phủ Bác Vọng xưa. Kết quả khảo sát và khai quật khảo cổ đã tìm thấy dấu tích về Phủ Chúa tức “thượng phủ” nằm ngay ở phía sau chùa Thiện Khánh, còn với những khoảng cách không gian không xa là các địa danh gắn liền với một phủ chúa, như Ao phủ, Cồn kho, Mô súng, Tàu tượng…qua thời gian và những biến động đã bị vùi lấp sâu dưới lòng đất, chỉ còn lại những dấu vết vỡ vụn của những đồ gốm sứ hay những ký ức mờ nhạt và đứt đoạn về ngày xưa rực rỡ. Nó như một giấc mơ thoảng qua. Dẫu sao thì 30 năm Chúa Nguyễn Phúc Chu dựng phủ ở Bác Vọng cũng là quãng thời gian yên bình nhất trong cuộc chiến kéo dài cả trăm năm khi Trịnh- Nguyễn phân tranh. Đó cũng điều kiện để vị chúa có tầm nhìn xa và trông rộng này mở mang bờ cõi, có thêm cho đất nước nhiều tên đất, tên làng, kéo dài từ Bình Thuận đến Sài Gòn.

Cng tam quan chùa Thiện Khánh, xã Quảng Phú

        Và tôi đã nghĩ, như một sự vĩnh hằng, khi chỉ mãi còn lại nơi đây tiếng chuông chùa Thiện Khánh hằng trăm năm nay vẫn đều đặn sớm hôm nguyện cầu cho sự bình an của con dân và làng quê Bác Vọng, một vùng đất với dấu xưa oai hùng, quê hương của những bậc dũng tướng như Đặng Dung hay Đặng Hữu Phổ, vùng đất thiêng với huyền thoại Bà Tơ và là nơi hội tụ hồn thiêng sông núi với phủ chúa Nguyễn Phúc Chu. Làng quê hiền hòa bên sông Bồ có tên Bác Vọng này do thế lạ lùng đến bất ngờ. Nó xứng đáng là một vùng đất huyền thoại, níu kéo bao bước chân ai.  

     Đình Nam

Các bài khác
Đăng nhập hệ thống
Tập san 2016
hoạt động các tổ chức đoàn thể
tuyên truyền cải cách hành chính
SÓNG NƯỚC TAM GIANG 2014
Cải cách thủ tục hành chính công
Lịch sử Quảng Điền
Các điểm đến du lịch Quảng Điền
Trang Thơ Quảng Điền
giấy mời qua mạng
Loading the player ...

Phần mềm quản lý hồ sơ công việc
UBND huyện Quảng Điền
Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Thừa Thiên Huế
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế
Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế
Liên hệ gửi bài
Liên hệ - Góp ý