Lịch công tác tuần phòng văn hóa thông tin Quảng Điền
Thống kê truy cập

Đang trực tuyến: 5

Hôm nay:

Tuần này:

Tháng này: 3367

Tổng lượt truy cập: 286587

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUANG VINH MUÔN NĂM!   ***  

SẢN VẬT LÀNG QUÊ QUẢNG ĐIỀN QUA CA DAO
Quảng Điền, vùng đất-con người gắn với những chặng đường lịch sử mở rộng bờ cõi nước Đại Việt về phương Nam. Những tên làng, tên tổng được hình thành theo dấu chân của cha ông một thuở di dân lập ấp, canh giữ miền phên dậu của Tổ quốc. Dần dà qua năm tháng, ở vùng đất “địa linh” này, những làng mạc trù phú mỗi ngày mỗi lớn mạnh nhờ có được “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Thành Hóa Châu, cảng Thanh Hà, làng Phước Yên,… những địa danh một thời vang bóng mà dấu tích hãy còn đây.

Địa linh sinh nhân kiệt. Đất ấy, sinh con người này. Ta nghe đồng vọng một thời nỗi lòng của vị anh hùng dân tộc Đặng Dung:1

“…Quốc thù vị báo đầu tiên bạch;

Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma“

(Thù nước chưa xong đầu đã bạc,

Gươm mài vầng nguyệt đã bao ngày).

Rồi biết bao anh hùng hào kiệt, danh nhân văn hóa qua các thời đại được sản sinh trên vùng đất vừa giàu truyên thống lịch sử, văn hóa; vừa trù phú do thiên nhiên ban tặng này… Và từ đó, ta hiểu tại sao chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên) quyết định chọn Phước Yên, một làng có địa thế để dụng võ nằm trên bờ sông Bồ, đóng đại bản doanh, tính kế lâu dài để đủ sức chống chọi với thế lực Đàng Ngoài

Trong phạm vi bài viết này, chỉ xin được đề cập đến một đề tài nhỏ: sản phẩm làng quê Quảng Điền qua ca dao, mong được giới thiệu với bạn đọc đôi nét về một vùng quê vừa giàu nông sản, vừa có đời sống tinh thần phong phú thể hiện qua những câu ca dao bình dị mà gợi cảm của những người nông dân yêu quê hương, ruộng lúa, nương sắn, đồng khoai …

Cũng như bao vùng quê có đất đai trù phú khác, làng mạc ở Quảng Điền hình thành đầu tiên chủ yếu bắt nguồn từ khu vực hạ lưu sông Bồ. Những ai chưa có dịp về vùng lúa Quảng Điền, có thể hình dung nơi đây qua hình ảnh chín nhánh Cửu Long của con sông Mêkong khi chảy về Việt Nam, tạo nên đồng bằng phì nhiêu Nam bộ. Thật thế, trước khi đổ ra Phá Tam giang, sông Bồ chia ra nhiều nhánh nhỏ, chảy quanh các làng mạc của huyện Hương Trà và Quảng Điền. Từ các nhánh sông này, hệ thống kênh rạch được tiền nhân qua các đời đào thêm để hình thành một mạng lưới giao thông cũng như tưới tiêu vô cùng thuận lượi. Ở các xã Quảng Phú, Quảng Phước, Quảng An, Quảng Thành, theo từng cơn lụt mỗi năm, sông mang phù sa về bồi đắp để  những cánh đồng nơi đây ngày một thêm màu mỡ:

Cơm Mỹ Xá, Cá Đông Xuyên,

Lúa Hộ Yên, Tiền Phú Ngạn2.

Không chỉ Mỹ Xá, Đông Xuyên, Hộ Yên (nay là An Xuân), ba làng thuộc xã Quảng An nổi tiếng “ ruộng sâu trâu nái “ mà tất cả các làng mạc ven bờ sông Bồ đều có đồng ruộng tốt tươi, cảnh trí nên thơ. 

Khi nghề nông phát triển, các nghề thủ công, ngành nghề có tính dịch vụ cũng được hình thành, đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt đời sống cộng đồng. Làm ruộng cần có cày bừa. “Hạt gạo một nắng hai sương phải xay giã dần sàng 3”; rồi phải “ tích cốc phòng cơ” để có “cái ăn” trong ngày đông tháng giá… Thế là nghề đan lát mây tre ra đời. Nguyên liệu để làm ra sản phẩm thủ công ấy không ở đâu xa: tre có sẵn trong bờ ruồng, chặt xuống rồi đan lát thành những chiếc thúng, chiếc mủng chắc chắn; những chiếc sàng, chiếc dần tiện lợi trong việc làm ra hạt gạo trắng ngần; cái rổ cái rá xinh xinh dùng hằng ngày trong việc bếp núc… Làng Bao La, xã Quảng Phú, làng Thủy Lập, xã Quảng Lợi là nơi sản xuất những sản phẩm tinh xảo này, phục vụ không những trong vùng mà còn cho nhiều vùng miền khác:

Thúng mủng Bao La đem ra đựng bột,

Chiếu Quảng Ngãi tốt lắm ai ơi.

Răng không mua lấy vài đôi,

Ba mươi mồng một trãi côi giường thờ

Thật ra thúng mủng là sản phẩm được làm bằng tre pheo của làng Thủy Lập, một làng có gốc gác từ Bao La. Bao La chỉ làm những dụng cụ dáng “thanh” hơn như sàng dần, rổ rá … bằng tre lồ ô. Tại sao thế ? Có người giải thích rằng, khi người Bao La ra khai hoang lập ấp ở vùng đất mới, vùng đất khô cằn, công việc nặng nhọc, vì thế mà dụng cụ lao động phải chắc bền; mà muốn chắc bền thì phải được làm bằng tre pheo. Nhưng dù là thúng mủng hay sàng dần, sản phẩm làm ra phải qua nhiều công đoạn nhọc nhằn không kém. Khó nhọc nhất là công việc chặt tre. “Nhất chặt tre, nhì ve gái!”. Phải chăng vì quen với công việc đốn tre mà trai tráng làng Bao La bao giờ cũng thắng cuộc trong trò chơi thi “lôi dây” với các làng bên trong các dịp lễ hội hay tết nhất?:

Bao La to ruột mạnh trì,

Xuân Tùy nhỏ ruột dám bì Bao La !

 

      

 

Nghề đan lát ở làng Bao La

 

   

Nghề đan lát ở làng Thủy Lập

Ngoài Bao La, Thủy Lập, sản phẩm bằng tre ở Quảng Điền còn có gót làng Đồng Bào. Những tấm gót vừa dài, vừa rộng, được đan bằng tre lồ ô, mảnh mai tinh xảo, dùng trong việc làm bồ đựng lúa, làm liếp cửa hay những dụng cụ khác trong nếp nhà tranh vách đất.

Có vật dụng để làm ra lúa gạo, có bồ cất giữ rồi; còn phải có thêm những vật dụng giúp người nông dân chống chọi với cái nắng, cái mưa khi đi làm đồng. Và đây, tơi Ô Sa , nón Phú Lễ, Hà Cảng …

Sông Bồ nước mát người thanh

Cô gái Phú Lễ ngồi quanh khuôn vành.

 

  

Chằm nón                                         Bánh ướt thịt heo Phú Lễ, ảnh Du lịch Huế

Phú Lễ, một trong những làng có lịch sử hình thành lâu đời trên đất Quảng Điền; làng có địa hình chạy dọc theo bờ bên này của con sông Bồ, đối diện bên kia sông là làng Phú Ốc, huyện Hương Trà. Do nằm bên bờ sông, cảnh trí làng rất nên thơ, vườn tược cây trái sum suê suốt bốn mùa. Con gái Phú Lễ có nghề chằm nón lá, nón ở đây có tiếng đẹp, bền; trai Phú Lễ lại có thêm nghề mổ lợn nổi tiếng, làm bao cô gái làng bên phải thèm thuồng !

Gió đưa dái mít leo đeo 4

Lấy chồng Phú Lễ thịt heo láng mồm!

Nếu Phú Lễ “ có thịt heo láng mồm” thì cách đó không xa, làng Thanh Cần nổi tiếng bún ngon; rồi làng Tráng Lực với đặc sản bánh tráng mà hễ ai mỗi khi về Sịa đều không quên mua đôi ba chục làm quà tặng người thân, hay người Sịa đi xa mang theo một ít làm quà quê !

Làm Bún gạo

Sản xuất tự cung tự cấp ở làng quê thời trước là vậy; nguyên liệu vốn có sẵn tại chỗ, sản phẩm “tự túc” ấy là nguồn  bổ sung cho mâm cơm hằng ngày thêm phong phú:

Đông Lâm đi rập5 đi ràng,

Sơn Tùng đan bị hai làng ăn chung !

Đông Lâm, Sơn Tùng là hai làng ở xã Quảng Vinh, nằm tiếp giáp nhau ở địa bàn thấp trũng, nơi người ta thường đùa “chưa mưa đã lụt”. Đông Lâm “đi rập” có cá tôm nhiều, biết đựng vào đâu? Thì đã có Sơn Tùng đan bị. Làng Sơn Tùng có nghề đan bị đệm. Đệm được dệt bằng thân cây cói, địa phương gọi là cây lác. Nghề này xưa thịnh lắm, nhưng bây giờ thì đã mai một. Hiện ở làng vẫn còn một vài thửa ruộng trũng, cây cói mọc hoang.

Thế yếu của hai làng là thấp trũng, nhưng thế yếu ấy trở thành thế mạnh khi phụ nữ trong làng Sơn Tùng có thêm nghề đan bị, phụ nữ Đông Lâm có thêm nghề bắt cá bằng một dụng cụ gọi là“ rập”, để nhà nhà đều có cá tôm “ đầy mâm giường thờ”:

Khôn ngoan lấy vợ Đông Lâm,

Ba mươi mồng một đầy mâm giường thờ.

Cũng như mơ ước “ lấy vợ Đông Lâm”, có được vợ làng La Vân với nghề thạch xoa cũng hấp dẫn không kém, khiến bao chàng trai làng bên phải mơ ước.

Thạch xoa một vốn bốn lời,

Anh về để vợ lấy người La Vân.

Làng La Vân nằm dọc theo một nhánh sông Bồ ở hạ lưu, phong cảnh nên thơ. Người La Vân xưa nay có tiếng mến khách. Một thời ta từng nghe lời khen ngợi đó qua câu phương ngôn: “Tiền Phú Ngạn, bạn La Vân”. Có người giải thích câu phương ngôn này theo một nghĩa khác: Người La Vân được các làng bên, nhất là các làng có ruộng đất phì nhiêu quý mến vì đức tính cần cù trong những lần về cùng họ làm mùa gặt hái hay gieo cấy. Thời xưa, khi thời vụ đến, xong việc nhà, người nông dân các làng ít ruộng đi giúp làng bên, gọi là “đi bạn”.

Rồi mùa toóc rạ rơm khô,

Bạn về quê bạn, biết nơi mô mà tìm !

Nhưng dù hiểu thế nào đi nữa, câu phương ngôn ấy ta chỉ thấy có một nghĩa: người La Vân có đức tính cần cù lao động, luôn là bạn tốt. Ngày nay không còn “Tiền phú Ngạn”, cũng chẳng còn nghề thạch xoa, nhưng “bạn La Vân” vẫn hiếu khách, vẫn làm lụng giỏi giang như xưa. Với đức tính cần cù và sáng tạo của người La Vân, nghề trồng hoa, cây kiểng ở đây đang ngày một phát triển.

Điều đáng quý là người nông dân “hay lam hay làm” với một tình yêu lao động thiết tha, họ không những yêu quý sản phẩm mà còn yêu quý cả con người “một nắng hai sương” làm ra sản phẩm ấy. Tình cảm đó được thể hiện qua câu ca dao mộc mạc hiền hòa lẫn bộc trực có nguồn gốc từ một làng quê thuộc vùng cát nội đồng, ven phá Tam giang:

Thương cô con gái Phong Lai,

Trên đầu chạc chuối6, hai vai gánh rều !

Làng Phong Lai có nghề trồng thuốc lá với công việc nặng nhọc, lam lũ. Thuốc lá trồng trên rú cát. Thứ phân xanh đặc biệt mà cây thuốc ưa thích, người dân ở đây gọi là “rều”, một loại rong mọc ở Phá Tam giang. “Rều” bón gốc cây thuốc để giữ ẩm, cho lá thuốc dài và xanh tốt. “Thuốc Phong Lai dài ngọn trắng tàn” được bà con “mê” cũng nhờ trồng trên cát, lá cây bị thoát nước nhanh nên dày, chứa nhiều nhựa; mà lá thuốc càng nhiều nhựa thì mới ngon!  “Nhất gái một con, nhì thuốc ngon nửa điếu” là thế!

Ngày nay con gái Phong Lai không còn “Trên đầu chạc chuối, hai vai gánh rều” như câu ca dao xưa miêu tả nữa. Hệ thống giao thông nông thôn mới đã tạo cho làng mạc bộ mặt văn minh, đường ngang ngõ tắt được đúc bê tông rộng rãi, thuận lợi và “hai vai gánh rều” của cô gái Phong Lai cũng đã được giải phóng. Thuốc lá cũng không còn trồng nhiều như xưa, vì ngày càng giảm người hút thuốc. Rều bây giờ là phân bón phục vụ cho các trang trại trồng rau quả trên rú cát. Và đây, ta nghe câu ca dao nói về sự tốt tươi của khoai lang khi được bón loại phân xanh “rều” lấy từ phá Tam Giang ấy: 

Thuốc Phong Lai, Khoai Mỹ Thạnh.

Khoai lang trồng trên đất pha cát, củ to và nhiều tinh bột; ăn khoai lang, rồi uống “đọi” nước chè xanh “đứng đụa” những lúc nghỉ giải lao sau công việc nặng nhọc thì thật là “đã” vô cùng !

        Và rồi tất cả sản phẩm phong phú của các làng quê khắp huyện được mang về giao thương trao đổi bán buôn ở chợ Sịa, trung tâm thương mại của vùng đất Quảng Điền từ bao đời nay; để từ đó, một thời Sịa được dân gian ca ngợi qua câu phương ngôn đầy tự hào: “Nhất Huế, nhì Sịa”. Ở cái thời “Nhất sĩ nhì nông. Hết gạo chạy rong, nhất nông nhì sĩ”; khi tiêu chuẩn nhà giàu phải có “trâu bầy ruộng bức”, “ruộng sâu trâu nái”, thì trên đất Thừa Thiên, không có nơi nào giàu có như Quảng Điền! Tuy nhiên, khi gọi “nhì Sịa”, ngoài đời sống kinh tế, hẳn người ta còn muốn ca ngợi một miền quê có đời sống văn hóa, xã hội phát triển vượt trội hơn các nơi khác chăng? Điều đó thì có thể! Chỉ một lĩnh vực giáo dục  thôi, cũng thấy rõ. Hai ngôi trường trung học đầu tiên ở Sịa ra đời sớm nhất trong các vùng quê của tỉnh Thừa Thiên thời ấy.

Bây giờ thời thế đã đổi thay; ruộng đồng phì nhiêu có thể chưa đủ để làm nên một xứ sở giàu có như xưa. Nhưng với điều kiện đất ruộng màu mỡ phù sa, nghề truyền thống phong phú, người dân cần cù yêu lao động, Quảng Điền sẽ phát triển mạnh khi biết phát huy và khai thác tốt tiềm năng đó.

Trên đất Quảng Điền giờ đã có HTX mây tre đan Bao La, Thủy Lập đứng vững được qua nhiều năm nay. Cái rổ, cái rá, cái sàng, cái dần bây giờ không chỉ để phục vụ nông nghiệp như xưa mà những bàn tay khéo léo của nghề đan lát truyền thống đã bắt nhịp được với yêu cầu thời đại để sáng chế ra nhiều sản phẩm mỹ nghệ phục vụ du lịch. Khoai lang Quảng Lợi nhiều tinh bột đã được nhà máy rượu Saké của Nhật Bản tin tưởng đặt hàng nguyên liệu. Sao ta không dám nghĩ rằng, một ngày kia, An Thành được nhiều nơi biết đến với rượu ngon như rượu Sica của các làng Kim Long, Kim Giao ở Quảng Trị, hay rượu Bàu Đá ở Bình Định. Bún Thanh Cần, gạo ngon từ các xã Quảng An, Quảng Thành, Quảng Thọ sao không thể là thương hiệu có mặt ở các chợ, siêu thị lớn trong vùng? Và “Bánh tráng Sịa” thơm ngon lại được phục hồi, để Sịa mãi là nơi có đặc sản “chẳng nơi nào có được” này !

Ai về chợ Sịa 7ghé mua,

Bánh đa Tráng Lực, tôm cua sáo Đầm 8

Ngày đó sẽ không xa ?!

 

                                                                                                                             Nguyễn Vê

Ghi chú       

1. Đặng Dung, vị tướng tài thời Hậu Trần. Ông người làng Bác Vọng, xã Quảng Phú

2. Tên một làng có xưởng đúc tiền thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên.

3.“ Đất nước “, thơ Nguyễn Khoa Điềm.

4. Dái mít : Còn gọi là trái mít cám, chỉ lớn bằng ngón tay cái, dài khoảng 3-4 phân; tự hoại sau khi trổ độ vài tuần.

5. Rập: Một thứ dụng cụ bắt cá có hình dáng như cái rớ đơm tôm người ta hay thả   dọc bờ sông, nhưng lớn và cứng cáp hơn. Khi bắt cá, ta úp rập xuống khe, ao, hồ. Cá bị úp trong tấm lưới rập được ấn xuống đáy ao.

6. Buộc tóc bằng dây chuối.

7. Chợ Sịa: Chợ có tên Chợ Ngũ xã Sịa, nằm bên bờ sông Sịa, địa phận làng Tráng Lực. Nay chợ được chuyển lên khu vực rú cát vừa được quy hoạch, mằm sát cầu Vĩnh Hòa, cách chợ cũ khoảng 200 mét về phía tây, với tên gọi mới là “ Trung tâm Thương mại Quảng Điền “ 

8. Sáo Đầm: Sáo là một loại dụng cụ làm bằng tre chẻ nhỏ, kết nối thành những tấm dài, có chiều cao chừng 2-4 mét. Sáo dùng để vây cá ở nơi có hồ nước rộng, độ sâu vừa phải. Đầm: Tên gọi khác của thôn Cư Lạc, xã Quảng Lợi, một thôn nằm trên bờ Phá Tam giang, chuyên làm nghề chài lưới.

 

 

Các bài khác
Đăng nhập hệ thống
Tập san 2016
hoạt động các tổ chức đoàn thể
tuyên truyền cải cách hành chính
SÓNG NƯỚC TAM GIANG 2014
Cải cách thủ tục hành chính công
Lịch sử Quảng Điền
Các điểm đến du lịch Quảng Điền
Trang Thơ Quảng Điền
giấy mời qua mạng
Loading the player ...

Phần mềm quản lý hồ sơ công việc
UBND huyện Quảng Điền
Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Thừa Thiên Huế
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế
Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế
Liên hệ gửi bài
Liên hệ - Góp ý